Bệnh Dịch tả lợn châu Phi và các biện pháp phòng chống
  • Cập nhật: 16/05/2019
  • Lượt xem: 4954 lượt xem

(Phù Ninh)- Theo thông báo của Cục Thú y, bệnh Dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra ở 30 tỉnh, thành phố với tổng số lợn mắc bệnh phải tiêu hủy trên 1,2 triệu con (chiếm khoảng 4% tổng đàn lợn của cả nước). Dịch bệnh đang có nhiều diễn biến phức tạp, khả năng lây bệnh cao. Để ngăn chặn sự xâm nhập và lây lan của dịch bệnh, cần có sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, các ngành, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và người chăn nuôi. Đặc biệt mỗi người chăn nuôi cần có những hiểu biết về bệnh Dịch tả lợn Châu Phi cũng như các biện pháp phòng chống để có thể áp dụng vào thực tiễn sản xuất.

Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi rút gây ra. Bệnh có đặc điểm lây lan nhanh, gây bệnh ở mọi lứa tuổi và ở mọi loài lợn (cả lợn nhà và lợn hoang dã). Bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng với tỷ lệ chết cao lên đến 100%. Vi rút gây bệnh Dịch tả lợn Châu Phi có sức đề kháng cao trong môi trường. Lợn khỏi bệnh có khả năng mang vi rút trong thời gian dài, có thể là vật chủ mang trùng suốt đời, do vậy khó có thể loại trừ được bệnh nếu để xảy ra bệnh Dịch tả lợn Châu Phi.

Đặc điểm của vi rút Dịch tả lợn Châu Phi:

Vi rút Dịch tả lợn Châu Phi có sức đề kháng cao, có thể tồn tại trong chất tiết, dịch tiết, trong xác động vật, thịt lợn và các chế phẩm từ thịt lợn như: xúc xích, giăm bông, salami. Vi rút có khả năng chịu được nhiệt độ thấp, đặc biệt là trong các sản phẩm thịt lợn sống hoặc nấu ở nhiệt độ không cao vi rút có thể tồn tại từ 3-6 tháng; vi rút có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 560C trong 70 phút hoặc ở 600C trong 20 phút. Vi rút sống trong máu đã phân hủy 15 tuần; trong máu khô khoảng 70 ngày; trong phân ở nhiệt độ phòng được 11 ngày; trong máu lợn ở 40C vi rút tồn tại được 18 tháng; trong thịt dính xương ở nhiệt độ 390C tồn tại được 150 ngày; trong giăm bông tồn tại được 140 ngày và ở nhiệt độ 500C tồn tại trong 3 giờ.

Các loại hóa chất có thể diệt vi rút Dịch tả lợn Châu Phi bao gồm: ether, chloroform, hợp chất Iodine hoặc Sodium hydroxide với tỷ lệ 8/1.000, formalin 3/1.000, chất tẩy trắng hypochlorite chứa chlorine 2,3% hoặc chất ortho-phenylphenol 3% nhưng phải duy trì thời gian 30 phút.

Quá trình gây bệnh và lây lan vi rút Dịch tả lợn Châu Phi:

Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi có thời gian ủ bệnh từ 3-15 ngày, ở thể cấp tính thời gian ủ bệnh chỉ từ 3-4 ngày.

Vi rút Dịch tả lợn Châu Phi lây nhiễm qua đường hô hấp và tiêu hóa, thông qua sự tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với các vật thể nhiễm vi rút như: chuồng trại, phương tiện vận chuyển, dụng cụ, đồ dùng, quần áo nhiễm vi rút và ăn thức ăn thừa chứa thịt lợn nhiễm bệnh hoặc bị ve mềm cắn,…

Triệu chứng, bệnh tích của bệnh Dịch tả lợn Châu Phi:

Lợn bị nhiễm Dịch tả lợn Châu Phi có nhiều triệu chứng, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh. Lợn bệnh biểu hiện các triệu chứng không khác biệt so với triệu chứng của bệnh Dịch tả lợn cổ điển (đã và đang có tại Việt Nam). Do đó, việc chẩn đoán bệnh Dịch tả lợn Châu Phi khó có thể xác định và phân biệt được bằng các triệu chứng lâm sàng; cần lấy mẫu gửi phòng thí nghiệm để xét nghiệm phát hiện vi rút Dịch tả lợn Châu Phi.

Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi biểu hiện ở 4 thể như sau:

Thể quá cấp tính: do vi rút có độc lực cao gây ra, lợn sẽ chết nhanh, không biểu hiện triệu chứng hoặc lợn sẽ nằm và sốt cao trước khi chết.

Thể cấp tính: do vi rút có độc lực cao gây ra, lợn sốt cao (40,5-42°C). Lợn không ăn, lười vận động, ủ rũ, nằm chồng đống, lợn thích nằm chỗ có bóng râm hoặc gần nước. Lợn có biểu hiện đau vùng bụng, lưng cong, di chuyển bất thường, một số vùng da trắng chuyển sang màu đỏ, đặc biệt là ở vành tai, đuôi, cẳng chân, da phần dưới vùng ngực và bụng, có thể có màu sẫm xanh tím. Trong 1-2 ngày trước khi con vật chết, có triệu chứng thần kinh, di chuyển không vững, nhịp tim nhanh, thở gấp, khó thở hoặc có bọt lẫn máu ở mũi, viêm mắt, nôn mửa, tiêu chảy đôi khi lẫn máu hoặc có thể táo bón, phân cứng đóng viên có kích thước nhỏ, có chất nhầy và máu. Lợn sẽ chết trong vòng 6-13 ngày hoặc 20 ngày. Lợn mang thai có thể sẩy thai ở mọi giai đoạn. Tỷ lệ chết cao lên tới 100%. Lợn khỏi bệnh hoặc nhiễm vi rút thể mạn tính thường không có triệu chứng, nhưng chúng sẽ là vật chủ mang vi rút Dịch tả lợn Châu Phi trong suốt cuộc đời.

Thể á cấp tính: gây ra bởi vi rút có độc tính trung bình. Chủ yếu được tìm thấy ở Châu Âu, lợn biểu hiện triệu chứng không nghiêm trọng. Lợn sốt nhẹ hoặc sốt lúc tăng lúc giảm, giảm ăn, sụt cân, ủ rũ, viêm toàn bộ phổi nên khó thở, ho có đờm, phổi có thể bội nhiễm vi khuẩn kế phát, viêm khớp, vận động khó khăn. Bệnh kéo dài 5-30 ngày, nếu máu ứ trong tim (cấp tính hoặc suy tim) thì lợn có thể chết, lợn mang thai sẽ sẩy thai, lợn chết trong vòng 15-45 ngày, tỉ lệ chết khoảng 30-70 %. Lợn có thể khỏi hoặc bị bệnh mạn tính.

Thể mạn tính: gây ra bởi vi rút có độc tính trung bình hoặc thấp, chủ yếu được tìm thấy ở Angola và châu Âu. Lợn có nhiều triệu chứng khác nhau như: giảm cân, sốt không ổn định, có triệu chứng hô hấp, hoại tử da, hoặc viêm loét da mạn tính, viêm khớp, viêm cơ tim, viêm phổi dính sườn, viêm các khớp khác nhau trong giai đoạn phát triển. Triệu chứng kéo dài 2-15 tháng, có tỷ lệ tử vong thấp, lợn khỏi bệnh sau khi nhiễm vi rút gây nên bệnh sẽ trở thành dạng mạn tính.

Bệnh tích:

Thể cấp tính: Xuất huyết nhiều ở các hạch lympho ở dạ dày, gan và thận. Thận có xuất huyết điểm, lá lách to có nhồi huyết. Da có màu tối và phù nề, da vùng bụng và chân có xuất huyết. Có nhiều nước xung quanh tim và trong xoang ngực hoặc xoang bụng, có các điểm xuất huyết trên nắp thanh quản, bàng quang bề mặt các cơ quan bên trong; phù nề trong cấu trúc hạch lâm ba của đại tràng và phần tiếp giáp với túi mật, túi mật sưng.

Thể mạn tính: Có thể gặp sơ cứng phổi hoặc có các ổ hoại tử hạch, hạch phổi sưng, viêm dính màng phổi.

Hiện nay chưa có vắc xin và thuốc điều rị được bệnh Dịch tả lợn Châu phi, vì vậy giải pháp phòng bệnh là chính, phát hiện và xử lý triệt để ổ dịch ngay từ khi ở phạm vi nhỏ và chưa lây lan. Để công tác phòng chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi đạt hiệu quả cao, người chăn nuôi cần thực hiện tốt các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học như:

Kiểm soát chặt chẽ việc xuất - nhập đàn, nuôi cách ly, kiểm soát người vào khu vực chăn nuôi; nên chăn nuôi theo phương thức “cùng vào - cùng ra”.

Khi mua con giống cần mua ở những địa chỉ giống có uy tín, đảm bảo có nguồn gốc rõ ràng, có giấy chứng nhận kiểm dịch của cơ quan thú y. Đặc biệt, con giống mới mua về cần được nuôi cách ly trước khi nhập đàn từ 15-20 ngày.

Tiêm phòng định kỳ, đầy đủ, đúng lịch các loại vắc xin cho đàn lợn như: vắc xin Dịch tả lợn cổ điển; Tai xanh, Lở mồm long móng, Suyễn lợn, Phó thương hàn, Tụ huyết trùng,...

Vệ sinh, khử trùng tiêu độc môi trường chăn nuôi thường xuyên bằng các loại thuốc như: Iodine, vôi bột,…Các phương tiện vận chuyển trước khi ra - vào trại cần được phun thuốc sát trùng cẩn thận. Chủ trại, công nhân cần tắm, thay quần áo, sát trùng trước khi vào khu vực chăn nuôi.

Chăm sóc nuôi dưỡng tốt để nâng cao sức đề kháng cho đàn lợn; có các biện pháp phòng, tránh các loại côn trùng, ký sinh trùng gây bệnh; đặc biệt không nuôi lợn theo phương thức thả rông và không sử dụng thức ăn thừa từ các nhà hàng, bếp ăn tập thể để cho lợn ăn.

Giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên đàn lợn, khi phát hiện có hiện tượng lợn ốm, chết bất thường cần báo ngay cho cơ quan thú y và chính quyền địa phương để có biện pháp xử lý kịp thời, không để dịch bệnh lây lan ra diện rộng.

Đồng thời, tích cực tuyên truyền, vận động gia đình và những người xung quanh cần nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc thực hiện 5 “không”: Không giấu dịch; Không mua bán, vận chuyển lợn mắc bệnh; Không giết mổ, tiêu thụ thịt lợn bệnh, lợn chết; Không vứt lợn chết ra môi trường; Không sử dụng thức ăn dư thừa chưa qua xử lý nhiệt để cho lợn ăn.

Để hạn chế thấp nhất thiệt hại do dịch bệnh gây ra, đảm bảo an toàn cho đàn vật nuôi, các hộ chăn nuôi cần thực hiện tốt các biện pháp nêu trên, từ đó góp phần phát triển sản xuất chăn nuôi theo hướng bền vững, an toàn./.

Đào Ngọc Lan - Trạm Chăn nuôi và Thú y Phù Ninh