Chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội

I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN MỘT SỐ MỤC TIÊU CHỦ YẾU NĂM 2018.

1.  Về kinh tế

- Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ước đạt 7,84% (KH 7,8 - 8%).

+ Nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 3,57% (KH 3 – 4%).

+ Công nghiệp và xây dựng ước đạt 9,01% (KH 9,5 – 10,5%).

+ Các ngành dịch vụ ước đạt 7,77% (KH 6,5 – 7,5%).

- Giá trị tăng thêm bình quân đầu người ước đạt 45 triệu đồng (KH 41-43 triệu đồng).

- Cơ cấu kinh tế ước đạt: Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản 19,35%(KH 22,67%); công nghiệp - xây dựng 54,76%(KH 52,78%); dịch vụ 25,89% (KH 24,54%).

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 2.112 tỷ đồng (KH 1.700 tỷ đồng).

- Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn ước đạt 146,3 tỷ đồng (KH 134,5 tỷ đồng).

- Thu ngân sách địa phương (từ sản xuất kinh doanh) so với tổng chi ngân sách ước đạt 29,3% (KH 30-32%)(*).

- Giá trị sản phẩm bình quân trên 1 ha đất canh tác và nuôi trồng thuỷ sản ước đạt 81 triệu đồng (KH 80 triệu đồng).

- Tỷ lệ đường giao thông trên địa bàn huyện (không tính đường quốc lộ và đường tỉnh) được cứng hóa đạt 66,2% (KH 64-66%) (trong đó có 54% (KH 62-64%) các đường liên thôn, trục chính quy mô mặt đường cứng hoá ³ 5m), cứng hóa 20,32 km đường GTNT.

- Tỷ lệ kênh, mương nội đồng được cứng hóa đạt 13% (KH 12-14%), cứng hóa 8,8 km.

- Số xã đạt tiêu chí nông thôn mới năm 2018 là 04 xã (KH 03-04 xã); hết năm 2018 không có xã dưới 15 tiêu chí.

2. Về văn hóa - xã hội

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ước đạt 1,19% (KH ≤ 1,2%).

- Tỷ lệ hộ nghèo giảm 0,64% (KH 0,45 - 0,5%).

- Tỷ lệ hộ cận nghèo giảm 0,28% (KH 0,2 - 0,5%).

- Giải quyết việc làm cho 1715 lao động (KH 1.650 lao động) (trong đó việc làm mới cho trên 1330 lao động); số lượt người đi xuất khẩu lao động 263 người (KH 250 người).

- Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên trên 90% (KH 82%).

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo và truyền nghề đạt 69% (KH 69%) (trong đó tỷ lệ đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 36% (KH 35%).

- Cơ cấu lao động đang làm việc: Nông, lâm nghiệp và thủy sản 38,1% (KH 38,1%), công nghiệp và xây dựng 35,8%  (KH 35,8%), các ngành dịch vụ 26,1% (KH 26,1%).

- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng 10,5% (KH ≤  10,5%).

- Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 83,79% (KH 83%).

- Trường học đạt chuẩn quốc gia 2 trường (KH 04 trường)(*).

- Số thuê bao Internet đạt 32 máy/ 100 dân đạt (KH 32 thuê bao).

3. Về môi trường

- Tỷ lệ hộ gia đình được dùng nước hợp vệ sinh đạt 98% (KH 95%).

- Tỷ lệ rác thải được thu gom, xử lý ở khu dân cư tập trung nông thôn đạt 63% (KH 59- 62%) (ở thị trấn Phong Châu đạt 100% (KH 92-95%).

- Độ che phủ rừng đạt 19,8% (KH 21,5%)(*).

Tổng số 24 chỉ tiêu trong đó 21 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch, 03 chỉ tiêu chưa đạt.

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU NĂM 2018. 

1- Về kinh tế.

1.1. Sản xuất nông lâm, thuỷ sản.

Về trồng trọt: Tổng diện tích gieo cấy lúa toàn huyện đạt 3.576,7 ha, đạt 96,7% kế hoạch năm, bằng 95% so với năm 2017, năng suất đạt 56,16 tạ/ha, sản lượng ước đạt 20.087 tấn. Diện tích trồng ngô 1.810,03 ha, bằng 95,4% so với năm 2017, năng suất ước đạt 48,45 tạ/ha, sản lượng đạt 8770,9 tấn. Tổng sản lượng cây lương thực có hạt 28.585,2 tấn đạt 97,5% kế hoạch năm, bằng 98,4% so năm 2017. Duy trì, phát triển diện tích cây hồng Gia Thanh, cây bưởi Diễn. Toàn huyện đã trồng được 30.700 cây phân tán, 85,7 ha rừng tập trung chủ yếu là cây keo lai hạt ngoại, đạt 104,5% kế hoạch.

Về chăn nuôi: Tập trung chỉ đạo phát triển đàn gia súc, gia cầm; thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh; triển khai tiêm phòng, tiêu trùng, khử độc theo kế hoạch; tăng cường quản lý việc sử dụng các chất cấm trong chăn nuôi. Giá cả trong ngành chăn nuôi ổn định dẫn đến số lượng đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn dần phục hồi, tổng đàn gia súc trên địa bàn: đàn bò tăng 0,2%, đàn trâu tăng 0,8%, đàn gia cầm tăng 14,96%, đàn lợn giảm 8%, (so năm 2017). Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản là 495,46 ha; sản lượng ước đạt 1.470 tấn. Triển khai thực hiện dự án nuôi cá lồng trên sông Lô tại các xã Phú Mỹ, An Đạo, Bình Bộ.

Về thủy lợi: Chủ động bơm nước bảo đảm phục vụ đủ nước tưới cho sản xuất nông nghiệp; tiếp tục chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thi công xây dựng cứng hóa kênh mương ở các xã Lệ Mỹ, Phú Mỹ, Tiên Phú, Trị Quận (năm 2018 xây dựng mới được 8,8 km). Triển khai thực hiện tốt kế hoạch phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn năm 2018.

Về xây dựng nông thôn mới: Chỉ đạo các xã trên địa bàn triển khai thực hiện kết luận số 68/KL-HU ngày 26/1/2018 của Huyện ủy Phù Ninh về thực hiện thí điểm cơ chế xã hội hóa đầu tư xây dựng xã nông thôn mới, đô thị văn minh và khu dân cư nông thôn mới. Làm tốt công tác huy động, lồng ghép các nguồn vốn cho xây dựng nông thôn mới tại các xã trên địa bàn. Năm 2018 có 04 xã: Phú Lộc, Trung Giáp, Bình Bộ, Hạ Giáp hoàn thành đạt chuẩn nông thôn mới; 05 khu ở xã Trị Quận đạt tiêu chí khu dân cư nông thôn mới.

Về hợp tác xã: Phối hợp với tỉnh tổ chức các lớp tập huấn về năng lực cho quản lý lãnh đạo HTX; tiếp tục duy trì và tạo điều kiện cho các HTX trên địa bàn hoạt động theo Luật hợp tác xã năm 2012.

1.2. Sản xuất công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp.

Tình hình sản xuất CN-TTCN trên địa bàn huyện duy trì được sự ổn định. Các doanh nghiệp trên địa bàn tiếp tục phát triển sản xuất, tăng cao sản lượng sản phẩm. Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng 8,12% so năm 2017. Sản lượng một số sản phẩm chủ yếu như: Chè các loại đạt 6.548 tấn tăng 5%; Gia ven 8.594 nghìn lít, tăng 90,2%; Xút, axit 52.884 tấn, tăng 69,5%; dăm mảnh đạt 230 nghìn tấn tăng 1,53% (so năm 2017). Tiếp tục thực hiện tốt các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp; năm 2018, đã thu hút được 17 dự án đăng ký đầu tư mới, đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh và cung cấp dịch vụ, với tổng mức đầu tư 1.844 tỷ đồng. Chỉ đạo triển khai hoàn thành kiểm đếm BTGPMB Cụm công nghiệp Phú Gia, cụm công nghiệp Tử Đà – An Đạo.

1.3. Thương mại, dịch vụ.

Nhìn chung, thị trường trên địa bàn tương đối ổn định. Hoạt động của các ngành dịch vụ thương mại, vận tải, bưu chính viễn thông tiếp tục phát triển đáp ứng nhu cầu của người dân. Tổng giá trị thương mại dịch vụ ước đạt 1.025 tỷ đồng, tăng 7,8% so năm 2017.

1.4. Về quy hoạch và đầu tư phát triển.

- Về quy hoạch và quản lý quy hoạch: Tập trung chỉ đạo các xã, thị trấn và các đơn vị chú trọng công tác lập quy hoạch; công tác quản lý quy hoạch được tăng cường thực hiện, tuân thủ theo các đề án được duyệt. Năm 2018, đã được UBND tỉnh công nhận thị trấn Phong Châu là đô thị loại V; đồng thời đã quy hoạch chi tiết để thực hiện 2 dự án đô thị tại thị trấn Phong Châu. Đã thực hiện quy hoạch 44 điểm dân cư nông thôn tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện, phù hợp với quy hoạch xây dựng nông thôn mới, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chung thị trấn Phong Châu, đảm bảo đúng trình tự theo quy định.

- Về đầu tư phát triển: Phối hợp với các chủ đầu tư triển khai thực hiện, hoàn thành các dự án của TW, tỉnh đầu tư trên địa bàn như: Đường tỉnh 323G, hệ thống cấp nước sạch xã Phù Ninh, Trạm biến áp 500Kv. Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thi công hoàn thành các dự án như: Tuyến đường giao thông xã Liên Hoa đoạn đập Bờ Lớn đi đê Hốc Kết; Đường GTNT xã Trị Quận tuyến đoạn từ bia ông Đồng đi đường tỉnh 323; đường GTNT xã Phú Mỹ đoạn Trằm Giếng khu 8-NVH khu 9; Đường giao thông TT Phong Châu đoạn QL 2 đi Đồng Giao; Trạm y tế xã Gia Thanh và các tuyến đường GTNT bằng BTXM theo kế hoạch của tỉnh (năm 2018 cứng hóa được 20,32 km đường giao thông nông thôn). Triển khai các thủ tục đầu tư để khởi công xây dựng một số dự án như: Mở rộng, nâng cấp cải tạo tuyến đường từ đường tỉnh 323E vào khu xử lý rác thải rắn Trạm Thản; Đường trục chính từ Quốc lộ II (ngã ba Phú Lộc) đến đường tránh thị trấn Phong Châu; Đường GTNT nội đồng xã Trị Quận đoạn Trầm Nọc – Trầm Vàng; Cải tạo, sửa chữa Trụ sở UBND huyện Phù Ninh; Trường mầm non Vĩnh Phú, Bình Bộ, Bảo Thanh, Lệ Mỹ, Trạm Thản, trường tiểu học Tử Đà, Phú Nham... Giá trị thực hiện: 2.112 tỷ đồng, tăng 32,03% so năm 2017.

1.5. Về tài chính - tín dụng.

Tăng cường công tác thu ngân sách, đặc biệt chú trọng thu thuế công thương nghiệp, thuế từ cấp quyền sử dụng đất, đấu giá đất, thu phí và lệ phí. Tổng thu ngân sách ước đạt 486,3 tỷ đồng, trong đó thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 146,3 tỷ đồng. Quản lý chặt chẽ các khoản chi ngân sách theo đúng dự toán, thực hiện tiết kiệm chi, đảm bảo cân đối ngân sách; chi ngân sách huyện năm 2018 ước đạt 428,1 tỷ đồng. Tăng cường huy động các nguồn thu nhằm phấn đấu tăng thu ngân sách đồng thời tiết kiệm chi, dành nguồn trả nợ, hết năm 2018 số nợ nguồn ngân sách còn lại là 28.229 triệu đồng. Tập trung chỉ đạo quyết liệt với các giải pháp cứng rắn để đẩy mạnh công tác quyết toán, qua đó năm 2018 đã thực hiện quyết toán xong 85 dự án, tăng 54 dự án so năm 2017.

1.6. Quản lý tài nguyên và môi trường.

Tăng cường công tác quản lý đất đai, khoáng sản, môi trường trên địa bàn.  Giải quyết tốt các thủ tục hành chính về lĩnh vực tài nguyên môi trường, cơ bản đúng hạn. Quản lý chặt chẽ về tài nguyên khoáng sản, môi trường; chỉ đạo các xã, thị trấn tăng cường quản lý quỹ đất đắp nền công trình, hạ cốt nền trên địa bàn; tăng cường quản lý cát sỏi lòng sông Lô. Chỉ đạo các xã, thị trấn, các tổ chức, đơn vị sự nghiệp thực hiện đăng ký nhu cầu sử dụng đất để lập Kế hoạch sử dụng đất năm 2019; chỉ đạo các xã đăng ký danh mục các dự án sử dụng đất phải trình HĐND tỉnh. Tập trung giải quyết các tồn tại trong việc giao đất làm nhà ở tự xây, đấu giá quyền sử dụng đất tại các xã Phù Ninh, Phú Nham, An Đạo, TT Phong Châu (đã giải quyết 27 ô đất tồn tại). Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu được quan tâm; công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm, các dự án đấu giá quyền sử dụng đất và giao đất ở trên địa bàn cơ bản đảm bảo đúng tiến độ. Tăng cường quản lý nhà nước về môi trường, kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm về môi trường. Tổ chức triển khai thực hiện công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải ở 10/19 xã trên địa bàn và cụm công nghiệp Tử Đà – An Đạo.

1.7. Công tác khoa học công nghệ.

Triển khai 01 mô hình chuyển giao kỹ thuật mới về giống lúa chất lượng cao J02 với quy mô 02 ha tại xã Tiên Du và Phú Mỹ; 01 ha mô hình QR15  tại xã Tiên Du và mô hình lúa kim cương 111 với quy mô 1 ha tại xã Phú Lộc, mô hình DK8639 tại xã Tử Đà, Vĩnh Phú. Xây dựng mô hình tưới nhỏ giọt cho cây ăn quả tại 4 xã: Tiên Du, Trung Giáp, Gia Thanh, Phú Lộc. Hoàn thành việc xây dựng nhãn hiệu tập thể Hồng không hạt Gia Thanh

2. Về văn hoá - xã hội.

2.1 Giáo dục và Đào tạo.

Công tác quản lý Nhà nước về Giáo dục – Đào tạo tiếp tục được tăng cường. Thực hiện nhiều biện pháp tích cực để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; chất lượng giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực: tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THCS đạt 99,1%, điểm thi bình quân vào lớp 10 đứng thứ 6 toàn tỉnh; đỗ tốt nghiệp THPT đạt 100%. Công tác phát hiện và bồi dưỡng giáo viên giỏi, học sinh giỏi, học sinh năng khiếu được thực hiện tốt; có 324 học sinh đạt giải trong các kỳ thi cấp tỉnh và quốc gia, 6 giáo viên đạt giải thi giáo viên giỏi cấp tỉnh. Tham gia có hiệu quả cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh, các phong trào thi đua, các cuộc vận động, ủng hộ. Thực hiện tốt việc quản lý chặt chẽ các hoạt động dạy thêm, học thêm; công tác quản lý thu, chi các khoản thu ở nhà trường; đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm ở các bếp ăn bán trú. Làm tốt công tác đảm bảo an ninh trật tự, an toàn trong các trường học, không để xảy ra bạo lực học đường.

Đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia theo kế hoạch, năm 2018 có thêm 2 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 và 4 trường công nhận lại sau 5 năm.

2.2. Văn hoá thông tin - thể thao, truyền thanh.

Chỉ đạo thực hiện tốt các hoạt động tuyên truyền,văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, chào mừng các ngày kỉ niệm, ngày lễ lớn của đất nước và địa phương. Thực hiện tốt việc quản lý Nhà nước về văn hóa, các dịch vụ văn hóa, trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa.Tổ chức các lễ hội truyền thống, hoạt động tín ngưỡng đảm bảo an toàn, tiết kiệm, đúng nghi lễ; tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao phục vụ Giỗ tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng năm 2018 đạt kết quả tốt. Rà soát công nhận các xã đạt tiêu chí văn hóa nông thôn mới. Tăng cường công tác QLNN trên lĩnh vực thông tin truyền thông phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy chính quyền từ huyện đến cơ sở; tổng số thuê bao Internet đạt 32 thuê bao/100 dân, tăng 4 thuê bao/100 dân so năm 2017. Tập trung chỉ đạo ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan Nhà nước, triển khai tạo lập cơ sở dữ liệu thực hiện Một cửa điện tử tại UBND huyện phục vụ cải cách hành chính. Trang thông tin điện tử tổng hợp của huyện được thực hiện tốt, nâng cao hiệu quả thông tin tuyên truyền.

Duy trì thường xuyên hoạt động của hệ thống truyền thanh từ huyện đến cơ sở; làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến Luật, chính sách mới; xây dựng và phát sóng 308 chương trình phát thanh; cộng tác với Đài PTTH tỉnh xây dựng 140 tin, 33 phóng sự truyền hình, 6 trang địa phương.

2.3 Công tác Y tế - dân số.

Công tác quản lý y dược và các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân được tăng cường. Thực hiện có hiệu quả Kế hoạch số 62,63-KH/HU ngày 22/01/2018 về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân và công tác dân số trong tình hình mới. Duy trì hoạt động khám chữa bệnh thường xuyên tại các cơ sở y tế, triển khai khám bệnh BHYT tại các Trạm y tế xã, thị trấn. Tập trung triển khai công tác tiêm chủng đạt hiệu quả, đảm bảo theo kế hoạch. Công tác phòng chống dịch bệnh được duy trì thường xuyên, đặc biệt là phòng chống dịch bệnh nguy hiểm. Năm 2018 xây dựng được 05 Trạm y tế Bình Bộ, Trung Giáp, Phú Lộc, Hạ Giáp, Tiên Phú đạt tiêu chí quốc gia về y tế.

Tổ chức triển khai kế hoạch công tác dân số và phát triển năm 2018; duy trì các hoạt động tuyên truyền, phổ biến thông tin, tư vấn, nói chuyện chuyên đề nhằm nâng cao nhận thức về dân số, sức khỏe sinh sản, kế hoạch hoá gia đình góp phần nâng cao chất lượng dân số, giảm tốc độ gia tăng tỷ số giới tính khi sinh. Tiếp tục duy trì và nhân rộng mô hình hoạt động các câu lạc bộ dân số và phát triển ở cộng đồng. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ước đạt 1,19%, giảm 0,05%; tỷ lệ  trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng là 10,5%, giảm 0,5% (so năm 2017).

2.4. Công tác chính sách xã hội và giải quyết việc làm.

Công tác giảm nghèo và các hoạt động từ thiện thường xuyên được quan tâm; các chính sách an sinh xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời theo đúng quy định; tỷ lệ hộ nghèo năm 2018 giảm 0,64% so năm 2017. Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 71 năm ngày thương binh liệt sỹ. Giải quyết kịp thời chế độ mai táng phí cho các đối tượng, hướng dẫn và thẩm định các hồ sơ đề nghị hưởng chế độ chính sách theo quy định. Tổ chức mở 05 lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Đã giải quyết việc làm cho 1.715 lao động, trong đó có 1.330 lao động có việc làm mới và 263 lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài.

3. Công tác quốc phòng và an ninh.

Duy trì nghiêm công tác phòng thủ sẵn sàng chiến đấu, hoạt động kiểm soát quân sự, tổ chức tuần tra theo quy định nhất là trong thời gian cao điểm. Hoàn thành công tác giao quân năm 2018 đảm bảo an toàn, đủ chỉ tiêu, chất lượng; tổ chức buổi lễ ra quân huấn luyện năm 2018 bảo đảm trang trọng, đúng nghi lễ. Chỉ đạo và tổ chức Diễn tập Khu vực phòng thủ huyện Phù Ninh năm 2018, kết quả xếp loại xuất sắc. Đồng thời chỉ đạo các xã: Lệ Mỹ, An Đạo, Tử Đà diễn tập chiến đấu phòng thủ đạt giỏi, bảo đảm an toàn tuyệt đối về người và vũ khí trang bị.

Triển khai kế hoạch đảm bảo ANTT Giỗ tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng năm 2018. Tình hình ANTT ổn định, không để xảy ra tình huống đột xuất, bất ngờ, không hình thành điểm nóng về ANTT. Đấu tranh phòng ngừa các vụ phạm pháp hình sự (điều tra làm rõ 73/82 vụ đạt tỷ lệ 89,02%). Quản lý chặt chẽ các hoạt động khai thác cát sỏi trên sông Lô, giữ vững an ninh nông thôn, tích cực phòng chống tệ nạn xã hội. Tăng cường quản lý nhà nước về trật tự xã hội, tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông.

4. Công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo, công tác thanh tra, công tác tư pháp và thi hành án dân sự

4.1. Công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo:

Công tác tiếp công dân có nhiều đổi mới tích cực, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Đã tổ chức 06 cuộc thanh tra, trong đó 03 cuộc theo kế hoạch, 03 cuộc thanh tra đột xuất; qua thanh tra đã phát hiện, xử lý nhiều sai phạm nhất là trong công tác chuyển mục đích sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân tại các xã, thị trấn trên địa bàn. Một số vụ việc khiếu nại, tố cáo phát sinh đã được cấp ủy, chính quyền các cấp tập trung chỉ đạo giải quyết theo đúng quy định, đảm bảo quyền lợi của công dân. Công tác nhận, xử lý và giải quyết đơn được chú trọng và thực hiện tốt; tỷ lệ đơn được giải quyết xong đạt 92,7% (89/96 đơn).

4.2. Công tác tư pháp và thi hành án dân sự:

Đã ban hành và triển khai thực hiện nghiêm túc các Kế hoạch: Phổ biến, giáo dục pháp luật; thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Bồi thường nhà nước;...Tập trung tuyên truyền, phổ biến luật, các văn bản QPPL mới có hiệu lực; các chủ trương, chính sách liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của người dân, tổ chức và doanh nghiệp; các quy định mới về tư vấn, định hướng, hỗ trợ khởi nghiệp, cải thiện môi trường sản xuất kinh doanh. Kiểm tra công tác công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật để xét đạt chuẩn nông thôn mới năm 2018 tại các xã Lệ Mỹ, Phú Lộc, Trung Giáp, Hạ Giáp, Bình Bộ. Làm tốt công tác chứng thực, quản lý hộ tịch; thẩm định, kiểm tra, rà soát hệ thống hóa văn bản QPPL … Chỉ đạo UBND các xã, thị trấn tăng cường và đẩy mạnh công tác thi hành án trên địa bàn; Số việc đã thi hành đạt 76,2%.

5. Công tác xây dựng chính quyền và cải cách hành chính.

Chỉ đạo tốt công tác xây dựng chính quyền cơ sở TSVM ở các xã, thị trấn; quyết định công nhận chính quyền cơ sở TSVM năm 2018. Giải quyết các chế độ chính sách cho cán bộ, công chức, viên chức đúng, đủ, kịp thời. Tiếp tục triển khai thực hiện kế hoạch cải cách hành chính huyện Phù Ninh giai đoạn 2016 – 2020; tổ chức kiểm tra công tác cải cách hành chính, công vụ đối với các cơ quan đơn vị trên địa bàn. Thực hiện tốt thủ tục hành chính thông qua cơ chế một cửa, tạo điều kiện cho các tổ chức và công dân đến làm việc; xây dựng Đề án nhà làm việc của Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả theo cơ chế một cửa liên thông hiện đại tại UBND huyện Phù Ninh, thị trấn Phong Châu. Tăng cường công tác phối kết hợp giữa các cấp, các ngành trong tổ chức, triển khai, hướng dẫn và thực hiện cải cách hành chính, xây dựng các đề án sáp nhập các đơn vị sự nghiệp cấp huyện, các trường Tiểu học và THCS, các khu dân cư. Tình hình tôn giáo trên địa bàn ổn định. Công tác thi đua khen thưởng được chỉ đạo và tổ chức thực hiện nghiêm túc theo kế hoạch.

II.DỰ KIẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2019

a. Về kinh tế

- Tốc độ tăng giá trị tăng thêm đạt 7,5-8%.

+ Nông, lâm nghiệp và thủy sản 3,5-4,0%.

+ Công nghiệp và xây dựng 9-9,5%.

+ Các ngành dịch vụ 7,0-7,5%.

- Giá trị tăng thêm bình quân đầu người từ 45-47 triệu đồng.

- Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản 18,95%; công nghiệp - xây dựng 55%; dịch vụ 26,05%.

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 1.840 tỷ đồng.

- Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đạt 148.600 triệu đồng.

- Thu ngân sách địa phương (từ sản xuất kinh doanh) so với tổng chi ngân sách đạt 30-32%.

- Giá trị sản phẩm bình quân trên 1 ha đất canh tác và nuôi trồng thuỷ sản đạt trên  83 triệu đồng.

- Tỷ lệ đường giao thông trên địa bàn huyện (không tính đường quốc lộ và đường tỉnh) được cứng hóa đạt 67-68% (trong đó có 55-57% các đường liên thôn, trục chính quy mô mặt đường cứng hoá ³ 5m).

- Tỷ lệ kênh, mương nội đồng được cứng hóa đạt 14-16%, cứng hóa 05-07 km kênh.

- Số xã đạt tiêu chí nông thôn mới năm 2019 là 02-03 xã (Lệ Mỹ, Trị Quận, Tử Đà).

b. Về văn hóa - xã hội

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên  1,15%.

- Tỷ lệ hộ nghèo giảm 0,4-0,45 %.

- Tỷ lệ hộ cận nghèo giảm 0,2-0,4%.

- Giải quyết việc làm cho trên 1650 lao động (trong đó việc làm mới 1200 lao động); số lượt người đi xuất khẩu lao động 250 người.

- Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên trên 90%.

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo và truyền nghề đạt 68-70% (trong đó tỷ lệ đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 36-37 %).

- Cơ cấu lao động đang làm việc: Nông, lâm nghiệp và thủy sản 38%, công nghiệp và xây dựng 35,5%, các ngành dịch vụ 26,5%.

- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng  9%.

- Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 85,9%.

- Trường học đạt chuẩn quốc gia 4 trường.

- Số thuê bao Internet / 100 dân đạt 36 thuê bao.

c. Về môi trường

- Tỷ lệ hộ gia đình được dùng nước hợp vệ sinh đạt trên 95%.

- Tỷ lệ rác thải được thu gom, xử lý ở khu dân cư tập trung nông thôn đạt 64-67% ( ở thị trấn Phong Châu đạt 100%).

- Độ che phủ rừng đạt 19,8%.