Điều kiện tự nhiên

1. Vị trí địa lý

Huyện Phù Ninh là một huyện miền núi, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Phú Thọ, cách trung tâm thành phố Việt Trì 15km và cách thị xã Phú Thọ 12km. Có địa giới hành chính:

- Phía Bắc giáp huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ và huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

- Phía Đông giáp huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Phía Tây giáp huyện Thanh Ba và thị xã Phú Thọ.

- Phía Nam giáp huyện Lâm Thao và thành phố Việt Trì.

- Huyện Phù Ninh có tổng diện tích tự nhiên 156,48 km2 nằm trên tọa độ từ 22019’ đến 22024’ vĩ độ Bắc, 10409’ đến 104028’ kinh độ Đông. Gồm có 19 đơn vị hành chính (1 thị trấn và 18 xã). Dân số toàn huyện 98.859 người (theo số liệu tính đến 31/12/2015).

- Gồm các xã, thị trấn sau: thị trấn Phong Châu, Trạm Thản, Liên Hoa, Phú Mỹ, Lệ Mỹ, Gia Thanh, Bảo Thanh, Trung Giáp, Hạ Giáp, Trị Quận, Tiên Du, Phú Lộc, Phú Nham, An Đạo, Bình Bộ, Tử Đà, Vĩnh Phú, Phù Ninh.

- Trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, vùng đất Phù Ninh đã nhiều lần thay đổi ranh giới hành chính và sự phân cấp quản lý hành chính. Năm 2002, các nhà khảo cổ học Việt Nam phối hợp với Sở Văn hóa -  Thông tin - Thể thao tỉnh Phú Thọ tiến hành khai quật khu di tích lịch sử ở xóm Rền – xã Gia Thanh. Những hiện vật tìm thấy ở đây thuộc nền văn hóa Phùng Nguyên (sơ kỳ đồng thau, tồn tại khoảng nửa đầu thiên niên kỷ II - trước công nguyên) thuộc thời đại Hùng Vương. Điều đó khẳng định Phù Ninh là mảnh đất có lịch sử từ rất lâu đời.

Tên gọi Phù Ninh đến thời kỳ nhà Trần mới xuất hiện. Địa bàn huyện Phù Ninh thuộc phủ Tam Đái, trấn Sơn Tây. Đời Lê Trung Hưng, vì tránh tên húy vua Lê Trang Tông nên đổi thành tên Phù Khang. Đến thời nhà Nguyễn trả lại tên huyện Phù Ninh. Từ đó đến nay, tên Phù Ninh hầu như không thay đổi, nhưng vị trí địa danh, địa giới hành chính có thay đổi.

Ngày 06 tháng 11 năm 1964, Bộ Nội vụ ra Quyết định số 292 – QĐ/NV về sửa đổi tên một số xã của tỉnh Phú Thọ. Theo quyết định này, huyện Phù Ninh đổi tên 12 xã.

Ngày 05 tháng 7 năm 1977, Hội đồng Chính Phủ ra Quyết định số 178/CP về việc hợp nhất các huyện, thành lập huyện mới của tỉnh Vĩnh Phú, hai huyện Lâm Thao và Phù Ninh sáp nhập thành huyện Phong Châu. Trước ngày hợp nhất, huyện Phong Châu có 44 xã. Khi thành lập, huyện Phong Châu còn 34 xã.

Thực hiện Nghị định số 59 – NĐ/CP ngày 24 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ về việc tách Phong Châu thành hai huyện Lâm Thao và Phù Ninh, ngày 01 tháng 9 năm 1999 huyện Phù Ninh được tái lập gồm 19 xã và 2 thị trấn (Phong châu, Phú Hộ) với diện tích tự nhiên là 183,37km2, dân số gần 12 vạn người.

Trên địa bàn huyện có các trục giao thông đường thủy, đường bộ quan trọng chạy qua như sông Lô (chạy từ xã Vĩnh Phú đến xã Phú Mỹ dài 32km); tuyến đường quốc lộ II dài 18km chạy qua các xã Phù Ninh, thị trấn Phong Châu, Phú Lộc, Tiên Phú và Trạm Thản; các tuyến đường tỉnh lộ 323, 323C, 323D, 323E, 325B… là điều kiện tốt để giao lưu trao đổi hàng hóa, phát triển các hoạt động dịch vụ và thu hút thông tin, công nghệ, vốn đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

2. Địa hình

Huyện Phù Ninh có địa hình dốc, bậc thang và lòng chảo; được phân thành 6 cấp độ dốc với diện tích tương ứng như sau:

- Cấp I (dưới 30): có diện tích  6559,17 ha, chiếm 39,22% tổng diện tích tự nhiên được phân bố ở các xã và thị trấn trong huyện, tập trung nhiều nhất ở các xã Phú Mỹ, Trạm Thản và Phù Ninh.

- Cấp II (từ 30 - 80): có diện tích 1072,01 ha, chiếm 6,41% tổng diện tích tự nhiên được phân bố ở các xã như An Đạo, Phù Ninh.

- Cấp III (từ 80 - 150): có diện tích 3846,53 ha, chiếm 23% tổng diện tích tự nhiên đươc phân bổ nhiều nhất ở xã Phù Ninh và Trạm Thản.

- Cấp IV (từ 150 – 200): có diện tích 4348,25 ha, chiếm 26% tổng diện tích tự nhiên được phân bổ ở các xã như Phú Mỹ, Tiên Phú và Trung Giáp.

- Cấp V (từ 200 - 250): có diện tích 667,29 ha, chiếm 3,99% tổng diện tích tự nhiên được phân bổ ở các xã như xã Phú Mỹ, Phù Ninh.

- Cấp VI ( trên 250): có diện tích 92,79 ha, chiếm 1,38% tổng diện tích tự nhiên được phân bổ ở một số ít các xã như Phú Mỹ, Phù Ninh, Phú Nham, thị trấn Phong Châu và Phú Lộc.

3. Khí hậu, thời tiết

Huyện Phù Ninh nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm. Hàng năm có hai mùa rõ rệt:

- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm.

- Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.

Mùa mưa do ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam làm cho nhiệt độ không khí nóng, mưa nhiều. Tổng lượng mưa trung bình hàng năm là từ 1600 – 1700mm, chủ yếu tập trung vào các tháng 6, 7, 8, 9 là nguyên nhân gây ra ngập úng, xói mòn đất. Tổng lượng mưa nhiều nhất là 2.600mm, thấp nhất là 1.100mm.

Mùa khô do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, làm cho nhiệt độ không khí lạnh, mưa phùn, thiếu ánh sáng, ẩm ướt, tháng lạnh nhất là tháng 01.

Nhiệt độ trung bình năm là 230C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 290C (tháng 6), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 150C (tháng 1). Biên độ nhiệt độ dao động giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 140C. Nhiệt độ cao tuyệt đối là 40,20C, nhiệt độ thấp tuyệt nhất là 2,90C.

Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình từ 83% trở lên, song nhìn chung không ổn định. Vào mùa mưa, độ ẩm không khí cao hơn mùa khô từ 10 – 15%. Độ ẩm không khí cao nhất là 92%, thấp nhất là 24%.

Số giờ nắng trung bình hàng năm là 1.760 giờ, tổng tích nhiệt đạt 8.3000C, thuộc loại tương đối cao.

Nhìn chung, đặc điểm khí hậu trên địa bàn huyện có nhiều thuận lợi đối với đời sống dân sinh, phát triển các ngành sản xuất nông – lâm nghiệp. Tuy nhiên, cũng còn một số khó khăn do khí hậu gây ra như lượng mưa phân bố không đều, tập trung vào một số tháng mùa mưa gây ra úng lụt, tạo dòng chảy lớn gây xói mòn đất; nhiệt độ xuống thấp vào mùa đông, thiếu ánh sáng, ẩm ướt gây khó khăn cho phát triển sản xuất và đời sống của nhân dân.

4. Thủy văn

Phù Ninh có sông Lô chạy dọc theo chiều dài huyện từ Bắc xuống Nam; là ranh giới giữa huyện Phù Ninh với các huyện ở tỉnh Vĩnh Phúc và Tuyên Quang. Tổng chiều dài phần sông chảy qua địa bàn huyện Phù Ninh là 32km, chảy từ xã Phú Mỹ đến xã Vĩnh Phú. Phù sa sông Lô góp phần bồi đắp chủ yếu cho đồng ruộng thuộc các xã Phú Mỹ, Trị Quận, Hạ Giáp, Tiên Du, An Đạo, Bình Bộ, Tử Đà và xã Vĩnh Phú. Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có hệ thống các sông ngòi nhỏ nằm giữa các khe của các đồi núi thấp, tạo nguồn nước tưới tieu phục vụ cho sản xuất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

5. Các nguồn tài nguyên

5.1 Tài nguyên đất

Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Phù Ninh là 15648,01 ha. Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 11.099,58 ha chiếm 70,93% diện tích đất tự nhiên; đất phi nông nghiệp có 4.021,69 ha chiếm 25,70% và đất chưa sử dụng là 526,74 ha, chiếm 3,37 %. Phần lớn đất của huyện Phù Ninh nằm trên địa bàn đồi núi thấp, chủ yếu là đất mùn trên đá sỏi, đất sét pha cát lẫn sỏi ở vùng dốc tụ và đất phù sa.

Tiềm năng đất đai của huyện Phù Ninh là rất lớn, với diện tích đất chủ yếu phù hợp cho phát triển nông – lâm nghiệp; đất có tầng dày canh tác, chất lượng đất khá tốt. Quỹ đất hiện có của huyện Phù Ninh cũng rất thuận lợi cho việc quy hoạch các khu, các trung tâm xã. Tuy nhiên, do địa hình không bằng phẳng, nằm xen lẫn với đồi núi thấp nên huyện Phù Ninh không có mặt bằng rộng để xây dựng các khu công nghiệp lớn, tập trung như các huyện đồng bằng.

5.2 Tài nguyên nước:

- Nguồn nước mặt: là toàn bộ diện tích đất mặt nước sông, ao, hồ, đầm trên địa bàn huyện. Nguồn nước tương đối dồi dào, hàng năm được bổ sung thường xuyên từ lượng mưa, có vai trò quan trọng cung cấp nước phục vụ sản xuất và đời sống.

- Phù Ninh là huyện có sông Lô chạy qua, trữ lượng nước rất lớn kể cả mùa đông và mùa hè. Con sông Lô chảy qua 8 xã của huyện. Đây thực sự là nguồn tài nguyên quý giá đóng vai trò chủ yếu trong việc cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, xây dựng và sinh hoạt của nhân dân. Ngoài ra, nguồn nước hồ đầm của huyện Phù Ninh chiếm diện tích khá lớn, bao gồm các đầm tự nhiên, hồ đầm nhân tạo. Nguồn nước này có trữ lượng hàng triệu mét khối. Tuy nhiên, do sự phát triển của công nghiệp, một số nhà máy gần thị trấn Phong Châu đã và đang đe dọa gây ô nhiễm, vì vậy, cần có các biện pháp xử lý chất thải tốt hơn để bảo vệ các nguồn nước.

- Nguồn nước ngầm: Hiện đang được khai thác sử dụng trong đời sống sinh hoạt của nhân dân, thông qua hệ thống giếng khơi, giếng khoan. Nguồn nước ngầm trên địa bàn huyện có trữ lượng lớn, ít bị ô nhiễm, dễ dàng khai thác.

- Nguồn nước mưa:  Với tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1.717 mm. Đây thực sự là nguồn nước lớn, cung cấp chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân; bổ sung lượng nước cho các sông, ngòi, hồ, đầm, nguồn nước ngầm trên địa bàn huyện.

5.3 Tài nguyên rừng

Tài nguyên rừng của huyện Phù Ninh đang dần dần được phục hồi và tăng trưởng khá với tổng diện tích toàn huyện là 3.197,90 ha, trong đó quỹ đất rừng sản xuất là 3.096,96 ha, rừng phòng hộ là 76,90 ha, rừng đặc dụng là 24,04 ha. Hầu hết rừng của huyện Phù Ninh là rừng bạch đàn, keo, tràm… làm nguyên liệu giấy, cung cấp cho Tổng Công ty Giấy Việt Nam. Ngoài ra, rừng còn có vai trò trong việc cung cấp nguồn lâm sản cho ngành xây dựng cơ bản, nguồn chất đốt cho nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế quá trình rửa trôi xói mòn đất.

Hiện nay, rừng và đất rừng của huyện Phù Ninh góp phần vào sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng nông, lâm kết hợp, tạo thêm công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động và làm cho sản phẩm xã hội ngày càng thêm phong phú.

5.4 Tài nguyên khoáng sản

Huyện Phù Ninh tuy chưa có khảo sát quy mô dưới lòng đất, nhưng trên địa bàn huyện có mỏ đá Trị Quận, trữ lượng khá, đáp ứng được nhu cầu xây dựng và công nghiệp của địa phương.

Ngoài ra, còn có nguồn cát sỏi dồi dào trên tuyến sông Lô ở các xã Trị Quận, Phú Mỹ, Hạ Giáp, Tiên Du, Bình Bộ, Tử Đà. Sản lượng khai thác hàng năm của nguồn cát sỏi khoảng 24.000 m3, giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động, đáp ứng được nhu cầu xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng trong huyện.

antalya escort
kadikoy escort
ankara escort pendik escort
escort manisa escort marmaris